Công trình công bố

GIÁO TRÌNH Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ
Tài liệu “Ô nhiễm không khí” đã được biên soạn nhằm phục vụ cho chương trình đào tạo ngành môi trường từ đầu những năm 2000 dưới dạng bản in thô. Tài liệu đã được tham khảo từ các nội dung cơ bản trình bày trong các tài liệu về ô nhiễm không khí trên cơ sở chọn lọc và đúc kết các nội dung trọng tâm phục vụ chương trình đào tạo. Trong quá trình giảng dạy, tài liệu đã được bổ sung, chỉnh sửa, cập nhật thông tin phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tình hình thế giới.

Bia
Nội dung của tài liệu được trình bày trong 9 chương:
Chương 1: Nhập môn ô nhiễm không khí
Chương 2: Các vấn đề về ô nhiễm không khí toàn cầu
Chương 3: Đánh giá đặc trưng nguồn khí thải
Chương 4: Kế hoạch giám sát chất lượng không khí
Chương 5: Đánh giá chất lượng không khí
Chương 6: Các phương pháp đo đạc, lấy mẫu, phân tích các chất ô nhiễm không khí
Chương 7: Mô hình phát tán ô nhiễm không khí
Chương 8: Ô nhiễm tiếng ồn
Chương 9: Xử lý số liệu – lập báo cáo – kiểm tra chất lượng
Để cuốn sách này được hoàn thiện cho đến ngày nay và được xuất bản, tôi xin chân thành cảm ơn TS. H. Harssema của trường Đại học Wageningen (Hà Lan) đã hợp tác cho lần biên soạn ban đầu của tài liệu từ năm 1999.
Sách này đã được chuẩn bị, cập nhật thông tin và hiệu chỉnh liên tục trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, đến nay đây là ấn phẩm xuất bản lần đầu chắc chắn sẽ không tránh khỏi các sai sót, rất mong độc giả và đồng nghiệp đóng góp ý kiến để chúng tôi có thể hoàn thiện hơn ở các lần in tiếp theo, xin chân thành cảm ơn. Các ý kiến đóng góp xin gởi về địa chỉ: Trường đại học Giao thông vận tải Tp.HCM, số 2, đường D3, khu Văn Thánh Bắc, phường 25, quận Bình Thạnh, TP.HCM.
Email: phamthianh@hcmutrans.edu.vn.

KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG THỦY KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG, ÁP DỤNG TRÊN TUYẾN KÊNH CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

Mã số: MT 151002.

Đường thuỷ nội địa là nơi diễn ra nhiều hoạt động kinh tế, xã hội như giao thông, vận tải, thủy sản, họp chợ, du lịch, tổ chức lễ hội,… Cùng với hiệu quả về kinh tế, các hoạt động trên đường thủy nội địa cũng tiềm tàng nguy cơ ô nhiễm môi trường, đặc biệt từ các sự cố đâm va, cháy nổ, tràn dầu và hóa chất từ các hoạt động giao thông ĐTNĐ gây ra, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.

Với đặc điểm địa hình sông nước, hoạt động giao thông đường thủy ở Đồng bằng sông Cửu Long có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội. Theo thống kê của Cục đường thủy nội địa, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có hơn 30 kênh liên tỉnh, đóng vai trò lưu thông liên hoàn, huyết mạch giữa các tỉnh trong khu vực(Sở Giao thông vận tải tỉnh Tiền Giang 2014).Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 13.000 km đường sông sử dụng cho vận tải với 2.510 cảng, bến thủy nội địa. Năng lực thông quan của các cảng từ 50.000 đến 2 triệu tấn/năm, có cảng cho phép tiếp nhận trọng tải 5.000 DWT. Các tuyến đường thủy nội địa phân bố tương đối đều nhưng về đến TP.HCM chỉ còn lại 2 tuyến là chợ Đệm Bến Lức (chiếm khoảng 30% lượng hàng hóa đi và về TP.HCM) và chợ Gạo (chiếm 70%). Lưu lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường thủy hằng năm đạt gần 51,5 triệu tấn (Ca Linh 2014).

Cho gao 2

Kênh Chợ Gạo được đào năm 1877 và đi vào hoạt động từ những năm 1900. Tuyến kênh Chợ Gạo có chiều dài 28,6km nằm trên tuyến hành lang đường thủy  từ TP. Hồ Chí Minh đi Long An, Tiền Giang, có điểm đầu tư ngã ba sông Vàm Cỏ đến ngã ba sông Tiền. Tuyến kênh này gồm 3 đoạn rạch nối tiếp nhau là: Rạch Lá, kênh Chợ Gạo và Rạch Kỳ Hôn, trong đó đoạn Rạch Lá dài hơn 10 km, Chợ Gạo dài 11,6km và Rạch Kỳ Hôn hơn 6,8km (Phan Tư 2013). Từ năm 2005 cùng với sự phát triển mạnh mẽ kinh tế xã hội, giao thông thủy trên tuyến kênh Chợ Gạo có những đột biến về lưu lượng và tải trọng phương tiện thủy qua lại. Theo thống kế có khoảng 1.400 lượt phương tiện trong tải từ 200DWT đến 1000DWT qua đoạn kênh này mỗi ngày, những ngày cao điểm lên 1.800 lượt phương tiện. Dự báo trong những năm tới, năng lực vận chuyển hàng hóa thông qua kênh Chợ Gạo ước tính từ 35 đến 70 triệu tấn/năm và sẽ tăng lên sau năm 2020.

Cho gao 1

Nhằm mục tiêu đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng, đặc điểm sông, kênh trong hoạt động giao thông thủy nội địa khu vực đồng bằng sông Cửu Long; đánh giá hiện trạng quản lý môi trường; xác định các tác động tiêu cực đến môi trường từ hoạt động giao thông thủy khu vực đồng bằng sông Cửu Long để đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do hoạt động giao thông thủy khu vực đồng bằng sông Cửu Long và áp dụng các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên tuyến kênh Chợ Gạo thuộc tỉnh Tiền Giang, do đó việc thực hiện đề án “Khảo sát, đánh giá hiện trạng quản lý môi trườngđề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong hoạt động giao thông thủy khu vực đồng bằng sông Cửu Long, áp dụng trên tuyến kênh Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang’’ là cần thiết, góp phần đưa hoạt động giao thông ĐTNĐ trở thành một phương thức vận tải an toàn, hiệu quả, bền vững và thân thiện với môi trường.

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI CÁC TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI VÀ PHÂN TÍCH VAI TRÒ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG TUYẾN TÀU ĐIỆN NGẦM SỐ 2 (BẾN THÀNH – THAM LƯƠNG) TẠI TP.HCM
Trong những năm qua, quá trình đô thị hoá ở các đô thị Việt Nam đang diễn ra với nhịp độ rất lớn, đặc biệt ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Điều đó đang tạo ra một áp lực lớn đối với cơ sở hạ tầng giao thông vận tải (GTVT) đô thị. Trước tình hình đó, ngày 08/04/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 568/QĐ-TTg “Phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch phát triển giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020″.Quy hoạch này là một phần trong các đề xuất phát triển GTVT của thành phố trong tương lai, trong đó dự kiến ưu tiên hàng đầu cho việc phát triển giao thông công cộng. Thị phần của phương thức đi lại bằng giao thông công cộng tại các khu vực đô thị được đặt mục tiêu là 35 – 45% vào năm 2030, so với mức hiện nay chỉ khoảng 5% và việc xây dựng một mạng lưới đường sắt đô thị (ĐSĐT) được coi tất yếu để đạt được mục tiêu này. [1]
Tại Tp.HCM, quy hoạch GTVT này được đặc trưng bằng một mạng lưới các tuyến (ĐSĐT) bao gồm 6 tuyến với tổng chiều dài 109km, hai tuyến đường sắt trên cao (monorail) và một tuyến xe điện (tramway). Loại hình vận tải này được xem là thân thiện với môi trường vì sử dụng năng lượng điện, không cản trở giao thông do đi theo hệ thống đường riêng, tốc độ lớn nhất khoảng 100km/h (từ 2-4 phút/chuyến) đảm bảo phục vụ hành khách đúng giờ, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân thành phố, phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển đô thị của các thành phố lớn đến năm 2020. [2]
Trong quá trình xây dựng dự án sẽ gây ra các tác động tiêu cực tới con người và môi trường tự nhiên – kinh tế – xã hội. Những tác động này có thể xảy ra liên quan đến: đền bù và giải phóng mặt bằng, các tác động đến môi trường trong quá trình xây dựng của dự án như ô nhiễm không khí, tiếng ồn, rung, chất thải (chất thải rắn, nước thải, chất thải nguy hại), sự cố môi trường… dẫn đến nhiều bức xúc trong cộng đồng. Tiêu biểu tại hội thảo “Giải pháp thiết kế nhà ga ngầm” tổ chức ngày 23/04/2014 tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Quốc, Phó trưởng ban Quản lý Đường sắt đô thị Thành phố, cho biết dự án xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 (Bến Thành – Tham Lương) sẽ chậm 1 năm và lùi thời gian khai thác vào năm 2019 do sự phản đối của người dân trong quá trình tham vấn cộng đồng, trong đó người dân bị ảnh hưởng của dự án đã không đồng tình việc tích hợp tháp thông gió, làm mát với lối lên xuống dẫn đến mỗi nhà ga vì chúng ảnh hưởng đến kinh doanh, sinh hoạt và mỹ quan đô thị và môi trường. [3]
Do đó, theo yêu cầu của nhà tài trợ ADB, cần phải tổ chức các cuộc họp tham vấn cộng đồng nhằm mục tiêu thông tin đến cộng đồng dự án và thay đổi về thiết kế tích hợp tháp thông gió và làm mát với lối lên xuống dẫn đến mỗi nhà ga, lấy ý kiến cộng đồng về sự đồng thuận và đóng góp xây dựng dự án nhằm giảm thiểu các tác động và đem lại hiệu quả tối ưu cho dự án.
Việc xây dựng các công trình giao thông cũng như cơ sở hạ tầng đem lại các hiệu quả về phát triển kinh tế, xã hội và môi trường cho khu vực nhưng cũng phải đối mặt với các vấn đề về kinh phí đầu tư, giải phóng mặt bằng, các tác động đến kinh tế xã hội trong quá trình thi công. Việc lấy ý kiến cộng đồng, đóng góp xây dựng dự án nhằm giảm thiểu các tác động và đem lại hiệu quả tối ưu cho dự án là điều rất cần thiết.
Với vai trò là chuyên gia môi trường, hỗ trợ tổ chức tham vấn cộng đồng, tác giả đã đề xuất đề tài “Nghiên cứu đánh giá nhận thức của cộng đồng đối với các tác động môi trường và xã hội và phân tích vai trò tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng tuyến tàu điện ngầm số 2 (Bến Thành – Tham Lương) tại Tp.HCM”.